Giải đề thi CFA Research: Chứng Khoán SSI- Part III: Industry Overview- Next

Thị trường tăng, mình thật sự không có gì để phân tích, cũng chẳng có gì để update (cập nhật), vì mấy công cụ kiểu LPR (Loan Prime Rate – lãi suất cho vay ưu đãi) hay MLF (Medium-term Lending Facility – cơ chế cho vay trung hạn) của Trung Quốc cũng không có gì mới mẻ, và bản thân COF (Cost of Funds – chi phí vốn) bên họ khá rẻ, đại khái là không có gì mới. OK, chúng ta tiếp tục với mấy luận điểm tiếp theo trong phần Industry Overview (Tổng quan ngành).

Tất nhiên, đối với cấu trúc CFA RC (CFA Research Challenge), phần Industry (ngành) phải xem xét Five Forces (Mô hình 5 áp lực cạnh tranh) và tìm ra Pair Comparisons (so sánh cặp) cho phần tiếp theo là Competitive Positioning (Định vị cạnh tranh). Phần này bắt đầu khá trọng tâm. Nói chung, cần tìm ra điểm mạnh yếu của toàn bộ ngành công nghiệp và nêu phần trọng tâm về ngành cũng như công ty trong ngành.

[Thesis 1: Chứng khoán là ngành đã mature (trưởng thành)]
Tại sao mình lại nói ngành này đã mature mà không phải bank (ngân hàng)? Vì như lúc đầu mình có nói, ngành này rất rất bé. Công ty chứng khoán chủ yếu làm “sell side” (bên bán), bản chất họ chỉ là 1-2 line (mảng) trong ngành ngân hàng: Investment Bank (Ngân hàng đầu tư – cụ thể là Corporate Finance: nhưng chỉ làm sell side, không phải buy side – bên mua) và Retail Broker (môi giới bán lẻ).
Với “no-core IT” (không có lõi công nghệ) như đã trình bày trong Part I, hiện tại ngành chứng khoán rất khó scale up (mở rộng quy mô). Đừng nói đến mấy vấn đề fintech (công nghệ tài chính) ở đây, vì nó chỉ là “game vẽ” (chiến lược không thực tế). Động lực tăng trưởng duy nhất là quy mô thị trường. Cái gì mà “mấy % dân số mua chứng khoán”? Nhìn sang Trung Quốc, cũng chỉ 7% population (dân số) mua chứng khoán. Vậy tại sao Việt Nam lại lớn hơn con số đó được? Nếu lấy % tăng trưởng dân số hay tỷ lệ dân số đầu tư chứng khoán để tính CAGR (Tốc độ tăng trưởng hàng năm kép) cho toàn ngành, thì quả là hài hước.
Với một công ty lớn nhất trong ngành, SSI (Công ty Chứng khoán SSI) chắc chắn chịu áp lực mature. Không mature thì chẳng bao giờ có chuyện trông cậy vào “game nâng hạng” (chiến lược nâng hạng thị trường).

[Thesis 2: Áp lực từ phía đối thủ cạnh tranh trong ngành thuộc bank]
Cuộc chiến về fee (phí). Cuộc chiến về fee môi giới, như đã nói ở Part II, là cuộc chiến giành giật miếng bánh thị phần mà SSI, với bộ máy truyền thống và cách vận hành truyền thống của công ty chứng khoán, không thể nhanh gọn tiện lợi như các công ty chứng khoán thuộc ngân hàng được.
Nói thật, cuộc chiến zero (phí gần bằng 0) này tổn hại nhất chính là các công ty chứng khoán. Không giống như bank với mô hình mà anh Hùng Anh nói: “Khách hàng chỉ cần gửi vào đây 2 triệu thì bank cũng có lời”. Với công ty chứng khoán, mô hình này dù tồn tại tại SSI nhưng không lợi như bank. Quay lại, cuộc chiến giành thị phần này rất khốc liệt, và hiện tại SSI đang thất thế hơn.

[Thesis 3: Áp lực từ đối thủ bên ngoài]
Ngoài nhóm thuộc bank, còn có nhóm công ty chứng khoán ngoại. Nhóm này thực ra không có lợi thế gì đáng kể, chỉ được cái lắm tiền. Họ rất nhiều tiền, vào với tâm thế chỉ cần có lãi, tìm FI (Foreign Investors – nhà đầu tư nước ngoài) mua FI bond (trái phiếu dành cho nhà đầu tư nước ngoài) có lãi, rồi nuôi các mảng khác cũng được. Duy trì kết quả tối thiểu và chờ cơ hội kinh doanh. Nên ngoài cuộc chiến với nhóm công ty thuộc bank, SSI còn phải cạnh tranh với nhóm này. Mình nghĩ nhóm này có cái hay riêng: nếu mảng TPDN (trái phiếu doanh nghiệp) mở lại tốt, họ có thể làm Liquidity Provider (nhà cung cấp thanh khoản) tốt cho thị trường này. Nhưng nói chung, tạm thời mà phải cạnh tranh với nhóm này về fee cũng mệt.

[Thesis 4: Những đối thủ truyền thống]
Những đối thủ truyền thống của SSI phải kể đến VND (Công ty Chứng khoán VND), VPS (Công ty Chứng khoán VPS), HSC (Công ty Chứng khoán TP.HCM), VCSC (Công ty Chứng khoán Bản Việt). Nhóm này nói chung chịu chung số phận với SSI, vốn đã có tập khách hàng truyền thống, và nếu có cạnh tranh, chủ yếu là cạnh tranh với nhóm này trên các mảng kinh doanh chính như môi giới và cho vay, như đã nói ở Part I. Đây đúng là những đối thủ chính trong phân tích nếu chọn pair (cặp). Với pair, mình suggest (đề xuất) thì chọn 2 công ty trong nhóm này và TCBS (Công ty Chứng khoán Kỹ Thương) ở nhóm thuộc bank là đủ.

Bài viết khác

Trong tín dụng ở Việt Nam có một khái niệm rất đơn giản là “Collateralization” (cho vay dựa trên tài sản đảm bảo) hay hiểu là “Monetization” (chuyển tài sản thành khả năng vay vốn) cũng được. Nó đơn giản là cho vay dựa trên tài sản đảm bảo (TSĐB). Còn dòng tiền, thẩm định … Đọc tiếp "Tiến thoái lưỡng nan trong tín dụng"
Đã đọc khá nhiều bài viết các bạn gửi về cả page (trang) và nick cá nhân Admin về chuyện Việt Nam thiếu “funding liquid” (thanh khoản tài trợ / nguồn vốn khả dụng) nên lãi suất lên cao, do nào là bán USD của SBV (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) hay do không … Đọc tiếp "Việt Nam thiếu gì tiền?"
Chuyện là gần tròn 10Y (10 năm) mấy cái quả giấy phép Rating (xếp hạng tín nhiệm) được đem ra thảo luận, FB (Facebook) nó cũng nhắc lại bài viết của mình trước đây. Và hiện tại nó vẫn đang là Dead-business (mô hình kinh doanh không hiệu quả) nặng nề. Và ông nào cầm … Đọc tiếp "Tại sao Rating ở Việt Nam vẫn sẽ là Dead- Business"
error: Content is protected !!